Thứ Ba, 14 tháng 5, 2013

Thông tin thuế tháng 03/2013


 

Trong số này:

Văn bản mới

Sửa đổi bổ sung một số quy định về Lệ phí trước bạ 3

Thông tư hướng dẫn hoàn thuế Bảo vệ môi trường (“BVMT”) cho bao bì đóng gói sẵn trước ngày 30/6/2013 3

Thông tư sửa đổi một số quy định về đăng ký và hưởng Bảo hiểm thất nghiệp (“BHTN”) 4

Văn bản hướng dẫn

 

5

Thuế Thu nhập Doanh nghiệp (“TNDN”)

5

Thành lập chi nhánh được coi là hình thức đầu tư mở rộng 5

Chính sách thuế đối với tổn thất hàng hóa do bị cháy

Chuyển nhượng tài sản gắn với đất thuê được xem là hoạt động

5

chuyển nhượng bất động sản Ưu đãi thuế TNDN dự án đầu tư tại Khu công nghệ cao

6

Thuế Giá trị gia tăng (“GTGT”)              6 6

Sử dụng hóa đơn đối với hoạt động vận tải biển quốc tế 7

Chi nhánh giải thể không phải lập hóa đơn khi bàn giao tài sản 7

Khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Dùng lại hóa đơn đã in khi thay đổi tên công ty

7

Thuế Nhà thầu nước ngoài (“NTNN”)    8

Thuế Nhà thầu đối với hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ phát sinh

8

trước ngày 1/1/2009 8

Thuế Xuất nhập khẩu (“XNK”)

8

Thuế XNK đối với hàng hóa của Doanh nghiệp chế xuất (“DNCX”) 8

Thuế Bảo vệ môi trường (“BVMT”)

Bao bì đóng gói hàng hóa, mua qua trung gian không được miễn thuế BVMT

8

Lệ phí trước bạ 9 Lệ phí trước bạ với trường hợp đổi tên văn phòng đại diện do sáp nhập công ty mẹ 9 Giá tính lệ phí trước bạ đối với tài sản không phải là nhà, đất 9

Vaên baûn môùi

Sửa đổi bổ sung một số quy định về Lệ phí trước bạ

Ngày 25/3/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 23/2013/NĐ-CP (“Nghị Định 23”) sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 45/2011/NĐ-CP về Lệ phí trước bạ. Nghị định 23 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2013.

Một số nội dung bổ sung, sửa đổi đáng lưu ý như sau:

               Sửa đổi quy định về một số trường hợp không phải nộp lệ phí trước bạ liên quan đến nhà đất nhận thừa kế hoặc là quà tặng; bổ sung nhà kho, nhà ăn, nhà để xe của cơ sở sản xuất, kinh doanh không thuộc đối tượng nộp lệ phí trước bạ;
               Mức thu lệ phí trước bạ đối với ô tô chở người dưới 10 chỗ ngồi là 10% khi nộp lệ phí trước bạ lần đầu, trường hợp cần áp dụng mức thu cao hơn do Hội đồng nhân dân tỉnh điều chỉnh tăng nhưng tối đa không vượt quá 50% mức quy định chung. Trường hợp nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi thì áp dụng mức thu 2% thống nhất trên toàn quốc.

 

Nội dung thay đổi được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư số 34/2013/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 28/3/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 124/2011/TT-BTC ngày 31/8/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về lệ phí trước bạ.


Thông tư hướng dẫn hoàn thuế Bảo vệ môi trường (“BVMT”) cho bao bì đóng gói sẵn trước ngày 30/6/2013

Ngày 18/3/2013 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 30/2013/TT-BTC hướng dẫn hoàn lại tiền thuế BVMT đối với túi ni lông làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa theo Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 7/1/2013 của Chính phủ. Để được hoàn lại tiền thuế BVMT, các doanh nghiệp sản xuất trực tiếp nhập khẩu bao bì dùng để đóng gói sẵn hàng hóa hoặc làm dịch vụ đóng gói hàng hóa cần nộp cho cơ quan Thuế hoặc cơ quan Hải quan bộ hồ sơ bao gồm: (i) Giấy đề nghị hoàn trả khoản thu ngân sách Nhà nước theo mẫu số 01/ĐNHT ban hành kèm theo Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/2/2011 của Bộ Tài chính; (ii) Tờ khai bổ sung hồ sơ khai thuế, tiền phạt chậm nộp theo mẫu số 01/KHBS ban hành kèm theo Thông tư 30/2013/TT­BTC; (iii) Chứng từ nộp thuế BVMT, tiền phạt chậm nộp. Thời hạn nộp hồ sơ là trước ngày 30/6/2013 cho cơ quan Thuế hoặc Hải quan nơi đã kê khai, nộp thuế.

Thông tư này cũng hướng dẫn về đối tượng, hồ sơ, trình tự thủ tục hoàn thuế BVMT đã nộp đối với túi ni lông sử dụng làm bao bì đóng gói sẵn hàng hóa từ ngày 1/1/2012 đến hết ngày 14/11/2012 (sau thời điểm này loại túi ni lông sử dụng với mục đích nêu trên đã được miễn nộp thuế BVMT theo Nghị định số 69/2012/NĐ-CP).

Thông tư 30/2013/TT-BTC có hiệu lực thi hành sau 45 ngày kể từ ngày ký.

Thông tư sửa đổi một số quy định về đăng ký và hưởng Bảo hiểm thất nghiệp (“BHTN”)

Ngày 1/3/2013 Bộ Lao động - Thương binh và xã hội đã ban hành Thông tư số 04/2013/TT-BLĐTBXH sửa đổi một số quy định về đăng ký và hưởng BHTN.

Theo sửa đổi tại Khoản 1 Điều 1 Thông tư này, công chức Nhà nước (trừ những người được tuyển dụng vào các đơn vị sự nghiệp Nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP có hiệu lực) và người đang hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng nếu có giao kết hợp đồng lao động cũng thuộc diện được tham gia BHTN.

"Người đang đóng BHTN" quy định tại Điều 15 (đã sửa đổi, bổ sung) Nghị định số 127/2008/NĐ-CP được hiểu là người có

tháng liền kề trước khi bị mất việc đã đóng BHTN. Tháng liền kề này bao gồm cả tháng nghỉ việc hưởng chế độ thai sản, hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày trở lên và tháng tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động.

Trường hợp người lao động muốn đăng ký thất nghiệp với Trung tâm giới thiệu việc làm tại địa phương khác nơi đã làm việc trước khi mất việc làm thì khi đăng ký phải xuất trình thêm Giấy xác nhận về việc chưa đăng ký thất nghiệp. Giấy này do Trung tâm giới thiệu việc làm nơi người lao động đã làm việc trước khi mất việc làm cấp (mẫu số 1b ban hành kèm Thông tư này).

Thời hiệu đăng ký hưởng BHTN quy định tại Điều 9 Thông tư 32/2010/TT-BLĐTBXH được nâng từ 7 ngày lên 90 ngày. Tuy nhiên, thời hiệu được đăng ký sau khi quá hạn đối với những người bị ốm đau, thai sản, tai nạn, thiên tai, địch họa lại rút ngắn xuống còn 7 ngày, tính từ ngày hết hạn đăng ký, thay vì 30 ngày trước đây.

Thông tư bãi bỏ mẫu số 11 và số 12 ban hành kèm theo Thông tư số 32/2010/TT­BLĐTBXH và đính kèm các biểu mẫu sau: Đơn đăng ký thất nghiệp, Đề nghị xác nhận về việc chưa đăng ký thất nghiệp, Đơn đề nghị hưởng BHTN,...

Thông tư số 04/2013/TT-BLĐTBXH có hiệu lực kể từ ngày 15/4/2013.

Vaên baûn höôùng daãn


Thuế Thu nhập doanh nghiệp (“TNDN”)

Thành lập chi nhánh được coi là hình thức đầu tư mở rộng

Theo hướng dẫn tại Công văn 727/TCT-CS ngày 6/3/2013 của Tổng cục Thuế, trường hợp doanh nghiệp trong quá trình hoạt động có thành lập thêm chi nhánh hạch toán phụ thuộc không phân biệt chi nhánh có cùng địa bàn với trụ sở chính hay khác địa bàn với trụ sở chính thì vẫn được coi hoạt động đầu tư mở rộng quy mô. Theo đó, phần thu nhập tăng thêm từ chi nhánh không được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định.

Chính sách thuế đối với tổn thất hàng hóa do bị cháy

Theo quy định hiện hành, giá trị tổn thất do thiên tai, dịch bệnh và trường hợp bất khả kháng khác không được bồi thường được coi là chi phí hợp lệ nếu có đầy đủ chứng từ theo quy định. Theo đó trường hợp doanh nghiệp vận tải có hàng hóa bị bốc cháy trong quá trình vận chuyển sẽ được coi là trường hợp bất khả kháng, theo đó được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.

Trên đây là nội dung Công văn 827/TCT-CS ngày 14/3/2013 của Tổng cục Thuế.

Chuyển nhượng tài sản gắn với đất thuê được xem là hoạt động chuyển nhượng bất động sản

Theo hướng dẫn tại Khoản 9 Điều 1 Nghị định số 122/2011/NĐ-CP ngày 27/12/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế TNDN:

“Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản bao gồm thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất; thu nhập từ cho thuê lại đất của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật về đất đai không phân biệt có hay không có kết cấu hạ tầng, công trình kiến trúc gắn liền với đất, thu nhập từ chuyển nhượng nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó không phân biệt có hay không có chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển nhượng quyền thuê đất; thu nhập từ chuyển nhượng các tài sản khác gắn liền với đất đai."

Theo quy định trên, trường hợp doanh nghiệp chuyển nhượng tài sản gắn với đất thuê thì doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động này để kê khai, nộp thuế TNDN theo quy định. Doanh nghiệp không được bù trừ thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng tài sản gắn với đất thuê vào thu nhập hoặc lỗ của các hoạt động kinh doanh sản xuất kinh doanh khác nhưng

được bù trừ lãi, lỗ với các hoạt động chuyển nhượng bất động sản khác (nếu có). Trên đây là nội dung hướng dẫn tại Công văn số 889/TCT-DNL ngày 19/3/2013 của Tổng cục Thuế.

Ưu đãi thuế TNDN dự án đầu tư tại Khu công nghệ cao

Theo Công văn số 966/TCT-CS ngày 25/3/2013 của Tổng cục Thuế, trường hợp doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện đầu tư vào Khu công nghệ cao nhưng tại thời điểm thành lập cơ sở hạ tầng trong khu công nghệ cao chưa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh nên phải hoạt động ngoài Khu công nghệ cao thì doanh nghiệp không được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện ưu đãi đầu tư vào Khu công nghệ cao.

Sau khi đã có đầy đủ cơ sở hạ tầng tại Khu công nghệ cao, Công ty chuyển hoạt động kinh doanh vào Khu công nghệ cao thì dự án đầu tư vào Khu công nghệ cao chỉ được hưởng ưu đãi thuế TNDN cho thời gian còn lại theo quy định nếu vẫn đáp ứng điều kiện ưu đãi tại Khu công nghệ cao.

Thuế Giá trị gia tăng (“GTGT”)

Sử dụng hóa đơn đối với hoạt động vận tải biển quốc tế

Theo quy định tại Khoản 1.c Điều 9 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/1/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT thì:

“Vận tải quốc tế quy định tại khoản này bao

gồm vận tải hành khách, hành lý, hàng hóa theo chặng quốc tế từ Việt Nam ra nước ngoài hoặc từ nước ngoài đến Việt Nam; hoặc cả điểm đi và đến ở nước ngoài, không phân biệt có phương tiện trực tiếp hay không có phương tiện. Trường hợp hợp đồng vận tải quốc tế bao gồm cả chặng vận tải nội địa thì vận tải quốc tế bao gồm cả chặng nội địa” được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 153/2010/TT-BTC ngày 28/9/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc sử dụng hóa đơn khi bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì:

a) Hóa đơn giá trị gia tăng là hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong nội địa dành cho các tổ chức, cá nhân khai, nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ.

c) Hóa đơn xuất khẩu là hóa đơn dùng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ ra nước ngoài, xuất vào khu phi thuế quan và các trường hợp được coi như xuất khẩu, hỗ trợ và nội dung theo thông lệ quốc tế và quy định của pháp luật về thương mại.”

Theo đó, trường hợp đơn vị kinh doanh vận tải ký hợp đồng vận tải quốc tế với khách hàng trong nước thì đơn vị kinh doanh có thể lựa chọn sử dụng hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn xuất khẩu.

Trên đây là nội dung tại Công văn số 697/TCT-CS ngày 5/3/2013 của Tổng cục Thuế.

Chi nhánh giải thể không phải lập hóa đơn khi bàn giao tài sản

Theo hướng dẫn tại Công văn số 729/TCT­CS ngày 6/3/2013 của Tổng cục Thuế, khi chi nhánh giải thể thì chi nhánh có trách nhiệm hoàn thành mọi nghĩa vụ về thuế đối với cục Thuế địa phương. Khi bàn giao tài sản về công ty mẹ chi nhánh không phải lập hóa đơn .

Khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Trường hợp công ty bảo hiểm ký hợp đồng bảo hiểm hiểm tài sản cho khách hàng, trong hợp đồng bảo hiểm có ghi rõ khi tổn thất xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm, công ty bảo hiểm có quyền lựa chọn hình thức thanh toán chi phí thực tế để sửa chữa, thay thế hoặc trả bằng tiền theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Trường hợp khách hàng bảo hiểm gặp tổn thất về tài sản, hàng hoá, khách hàng tự mang tài sản đi sửa chữa hoặc mua hàng, hoá đơn sửa chữa tài sản hoặc mua hàng mang tên khách hàng bảo hiểm, sau đó, khách hàng bảo hiểm lập hoá đơn GTGT cho công ty bảo hiểm theo giá trị tương ứng với các chi phí sửa chữa tài sản hoặc mua hàng có hoá đơn GTGT trong phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Đồng thời khách hàng bảo hiểm đã kê khai, nộp thuế GTGT và công ty bảo hiểm đã kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hoá đơn này, thì phần thuế GTGT tương ứng cũng được chấp thuận kê khai khấu trừ.


Trên đây là nội dung hướng dẫn của Tổng cục Thuế tại Công văn số 715/TCT-CS ngày 6/3/2013.

Dùng lại hóa đơn đã in khi thay đổi tên công ty

Theo hướng dẫn tại Công văn số 900/TCT­CS ngày 20/3/2013 của Tổng cục Thuế, trường hợp doanh nghiệp thay đổi tên nhưng mã số thuế, địa chỉ không thay đổi thì doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc có thể đóng dấu tên mới bên cạnh tiêu thức tên đã in sẵn để tiếp tục sử dụng hết số hóa đơn đã in.

Tuy nhiên trước khi sử dụng hóa đơn theo tên mới, doanh nghiệp cần:

               Thông báo điều chỉnh giảm những số hóa đơn đã thông báo phát hành theo tên cũ còn tồn chưa sử dụng;
               Thông báo phát hành những số hóa đơn sẽ sử dụng theo tên mới.

 


Thuế Nhà thầu nước ngoài (“NTNN”)

Thuế Nhà thầu đối với hoạt động xuất nhập khẩu tại chỗ phát sinh trước ngày 1/1/2009

Trường hợp công ty ở Việt Nam mua hàng của công ty ở nước ngoài và công ty ở nước ngoài chỉ định công ty khác ở Việt Nam giao hàng cho công ty mua hàng theo hình thức xuất nhập khẩu tại chỗ trong giai đoạn từ ngày 16/2/2005 đến ngày 31/12/2008, Công ty nước ngoài thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định tại Thông tư số 05/2005/TT-BTC ngày 11/1/2005 đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.

Số thuế của NTNN phải nộp, bên Việt Nam không kê khai hoặc kê khai chưa chính xác thì doanh nghiệp được kê khai bổ sung tại thời điểm chưa có quyết định thanh tra, kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp. Trường hợp đã có quyết định thanh tra, kiểm tra của cơ quan Thuế, cơ quan có thẩm quyền và có số thuế truy thu qua kiểm tra, thanh tra thì tùy mức độ vi phạm doanh nghiệp bị xử lý vi phạm theo quy định.

Trên đây là nội dung hướng dẫn của Tổng cục Thuế tại Công văn số 939/TCT-KK ngày 25/3/2013.

Thuế Xuất nhập khẩu (“XNK”)

Thuế XNK đối với hàng hóa của Doanh nghiệp chế xuất (“DNCX”)

Ngày 5/3/2013 Bộ Tài chính ban hành Công văn số 2870/BTC-TCHQ hướng dẫn về đối tượng không chịu thuế đối với hàng hóa của DNCX.

Theo đó, các nhà thầu khi nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài để xây dựng nhà xưởng, văn phòng làm việc cho DNCX không phải kê khai nộp thuế nhập khẩu. Ngoài hồ sơ nhập khẩu theo quy định tại Điều 45 Thông tư 194/2010/TT-BTC, các nhà thầu cần nộp bổ sung thêm các tài liệu sau đây: Giấy báo trúng thầu hoặc giấy chỉ định thầu (ghi rõ nội dung trúng thầu hoặc chỉ định thầu) kèm theo hợp đồng bán hàng cho các doanh nghiệp theo kết quả đấu thầu hoặc hợp đồng cung cấp hàng hóa, trong đó quy định giá trúng thầu hoặc giá cung cấp hàng hóa không bao gồm thuế Nhập khẩu.

Thuế Bảo vệ môi trường (“BVMT”)

Bao bì đóng gói hàng hóa, mua qua trung gian không được miễn thuế BVMT

Ngày 06/3/2013 Tổng cục Thuế ban hành Công văn số 716/TCT-CS hướng dẫn một số vướng mắc về chính sách thuế BVMT như sau:

1. V bao bì đóng gói sn hàng hoá:

Đối với bao bì đóng gói sẵn hàng hoá thuộc đối tượng không chịu thuế BVMT là bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua trực

8

tiếp của người sản xuất hoặc người nhập khẩu để đóng gói sản phẩm do tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đó sản xuất gia công ra hoặc mua sản phẩm về đóng gói hoặc làm dịch vụ đóng gói. Trường hợp bao bì mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua qua khâu trung gian thì thuộc đối tượng phải kê khai nộp thuế bảo vệ môi trường.

2. Đi vi bao bì u thác xut khu:

Trường hợp doanh nghiệp sản xuất bao bì trực tiếp xuất khẩu hoặc ủy thác cho cơ sở kinh doanh xuất khẩu để xuất khẩu thì không phải nộp thuế BVMT đối với hàng hoá xuất khẩu ra nước ngoài này.

3. V thuế bo v môi trưng ca t chc, h gia đình, cá nhân mua đ xut khu:

Theo quy định tại Điều 2, Thông tư số 159/2012/TT-BTC nêu trên thì trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân mua túi ni lông thuộc đối tượng chịu thuế BVMT sau đó xuất khẩu ra nước ngoài thì phải kê khai, nộp thuế BVMT.

Lệ phí trước bạ

Lệ phí trước bạ với trường hợp đổi tên văn phòng đại diện do sáp nhập công ty mẹ


Theo hướng dẫn tại Công văn số 825/TCT­CS ngày 14/3/2013 của Tổng cục Thuế, trường hợp văn phòng đại diện đổi tên do công ty mẹ tại nước ngoài sáp nhập với công ty khác, đồng thời không thay đổi mã số thuế, nhân sự và trụ sở làm việc thì văn phòng đại diện không phải nộp lệ phí trước bạ khi đăng ký đổi tên quyền sở hữu, sử dụng với tài sản của mình.

Giá tính lệ phí trước bạ đối với tài sản không phải là nhà, đất

Theo quy định hiện hành, quy trình xây dựng và ban hành bảng giá tính lệ phí trước bạ từng loại tài sản thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố. Trường hợp giá trị mua bán trên hóa đơn hợp pháp đối với tài sản không phải là nhà, đất cao hơn giá tính lệ phí trước bạ do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định thì tính theo giá trị thực tế trên hóa đơn hợp pháp.

Trên đây là nội dung Công văn số 824/TCT­CS ngày 14/3/2013 của Tổng cục Thuế.

Xu hướng tăng cường thanh kiểm tra và xử phạt vi phạm pháp luật về kê khai thuế


Như đã đề cập trong các Bản tin của chúng tôi, thời gian gần đây, bên cạnh việc ban hành nhiều chính sách nhằm thắt chặt và hạn chế áp dụng miễn, giảm, gia hạn thuế, cơ quan thuế cũng tăng cường các hoạt động quản lý việc tuân thủ quy định về thuế thông qua một số biện pháp như: 

 •Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế thường xuyên;
 

 •Ít linh hoạt hơn trong việc vận dụng các luật và quy định theo hướng giảm nghĩa vụ thuế;
 

 •Quyết liệt hơn trong việc truy thu thuế thiếu cũng như thu phạt và lãi phạt nộp chậm; và
 

 •Không chấp nhận các giải trình về xử lý thuế mà thiếu cơ sở hợp lý về kỹ thuật nghiệp vụ.

Theo quy định của Luật Quản lý thuế và một số văn bản hướng dẫn của Tổng cục Thuế (Công văn số 1938/TCT-CS ngày 7/6/2012), trường hợp người nộp thuế khai sai dẫn đến làm thiếu số tiền phải nộp hoặc không khai thuế nếu tự giác khắc phục hậu quả bằng cách kê khai bổ sung và nộp đủ số tiền thuế phải nộp trước khi cơ quan có thẩm quyền phát hiện, thì bị xử phạt chậm nộp thuế, nhưng không bị xử phạt vi phạm thủ tục hành chính thuế, thiếu thuế, trốn thuế. Cụ thể, người nộp thuế phải khai bổ sung hồ sơ khai thuế (nếu đã khai sai) hoặc nộp hồ sơ khai thuế (nếu trước đây chưa khai thuế) để làm căn cứ xác định đầy đủ số thuế phải nộp vào NSNN.

Điển hình gần đây cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Công văn số 1541/CT-TTHT ngày 27/3/2013, theo đó, trường hợp người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế tháng, quý, năm sau 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định sẽ bị coi là hành vi trốn thuế, gian lận thuế và bị phạt bằng một (1) lần số thuế mà doanh nghiệp kê khai trễ hạn sau 90 ngày. Tuy nhiên Công văn không đề cập đến trường hợp người nộp thuế tự giác khắc phục hậu quả khi phát hiện việc kê khai sai hoặc không kê khai thuế.

Xin lưu ý thêm rằng Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế hiệu lực từ 1/7/2013 sẽ nâng đáng kể mức xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về thuế, cụ thể:

 •Chậm nộp tiền thuế: phạt theo mức lũy tiến 0,05%/ngày nếu số ngày chậm nộp không quá 90 ngày và 0,07%/ngày với số ngày chậm nộp từ 91 ngày trở lên (Hiện tại: áp dụng mức chung là 0,05%/ngày);

 •Khai sai dẫn đến thiếu thuế: tăng gấp đôi mức xử phạt từ mức 10% hiện tại lên 20%.

Theo đó, Quý doanh nghiệp cân nhắc chủ động rà soát tình hình kê khai nộp thuế tại đơn vị mình nhằm đảm bảo tuân thủ đầy đủ các quy định pháp luật về thuế, giảm thiểu các khoản phạt trong tương lai do vi phạm các quy định về kê khai này.

Nếu Quý Doanh nghiệp có bất cứ thắc mắc nào liên quan tới việc thực hiện các quy định nêu trên, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi.

 

Circular 45/2013/TT-BTC guiding the regime of management, usage and depreciation of fixed assets (“FAs”)


On 25 April 2013, the Ministry of Finance issued Circular 45/2013/TT-BTC (“Circular 45”) guiding the regime of management, usage and depreciation of FAs in order to replace Circular 203/2009/TT-BTC (“Circular 203”). Circular 45 shall be effective starting from 10 June 2013 and is applicable to fiscal year 2013 onwards. 

The majority of provisions on management, usage and depreciation of FAs under Circular 45 remain unchanged in comparison with those per Circular 203. However, there are a few updates as follows: 

Criteria for being qualified as Fixed Assets

 Minimum historical cost for qualification as fixed assets has increased to VND30million in comparision with VND10million as regulated in Circular 203.

 Under Circular 45, the land use right (“LUR”) qualified as intangible FA is now more comprehensively classified as: 

- LUR (of either finite or infinite term), which is granted by the State on the basis of collected land using fee (“LUF”), or legally transferred;
- LUR of land leased before the effective date of the Law on Land in 2003, of which the lease for the entire rental period has been fully paid in advance and the remaining pre-paid period is at least five (05) years

 In addition, Circular 45 also provides additional cases where LUR shall not be qualified as an intangible FA, such as LUR of land granted by the State without a collection of LUF; one-time full land leasing payment for the entire period (rental period starts after the effective date of 2003 Law on Land or no certificate for LUR is granted);

Historical Cost of Financial Lease Fixed Assets:  

 According to Circular 45, the historical cost of financial lease fixed assets is only determined by the value of leased FA at the time when the lease starts plus certain direct expenses initially incurred in relation to the financial lease (Circular 45 removes the determination of historical cost that is based on the present value of minimum lease payments as regulated under Circular 203). 

Principles on Depreciation of Fixed Assets  
 Circular 45 provides further guidance for historical cost of construction items recorded at provisional value  and subsequently adjusted upon their finalization as follows:
- Enterprises are not required to adjust the depreciation expenses for the period prior to the approval of finalizing construction work; 

- Depreciation incurred subsequent to the finalization period is calculated by: the approved final value minus (-) accumulated depreciation up to the date of final approval then divided (:) by the remaining depreciable period of such construction items. 

 With regard to fixed assets, which are currently managed and depreciated under Circular 203, but are unqualified as FA under Circular 45, the respective remaining value should be allocated over a period of maximum three (03) years from the effective date of Circular 45.

 Enterprises are required to determine the depreciation method and depreciable period of FA on a self-assessment basis and then notify the local tax authority before taking the depreciation. Previously, Circular 203 did not stipulate any regulations on notification or registration of the depreciable period of FAs. 
Depreciable Period of Fixed Assets  
 Circular 45 introduces changes in the range of the depreciable period of certain types of fixed assets; specifically, it increases the range for machinery and equipment and supplements the depreciable period for port, dock slipway, and intangible FAs which were not regulated in the former Circular

 For fixed assets that have been in use before 1 January 2013, the remaining depreciable period is determined pursuant to the following formula: 


Should you have any concerns regarding the implementation of these newly issued regulations, please do not hesitate to contact us.
Jenny Nguyen
Email: nguyenthisinhktkt85@yahoo.com
Handphone: 0906209572
Telephone:
Website





Thứ Hai, 10 tháng 9, 2012

Thí sinh người Việt gây sốt ở X Factor Anh

 

Chàng du học sinh 18 tuổi, Jason Việt Tiến, trở thành một hiện tượng bởi cách nói chuyện hài hước và chất giọng giàu cảm xúc khi tham gia chương trình tìm kiếm tài năng âm nhạc tại Anh.

Xuất hiện trong tập 2 của chương trình The X Factor (phiên bản Anh), cậu sinh viên Việt Nam đang du học tại Birmingham, Anh, làm dư luận xôn xao. Không có chất giọng thực sự xuất sắc nhưng Việt Tiến được các giám khảo đánh giá cao ở cách bộc lộ cảm xúc khi thể hiện bản ballad I Have Nothing của diva bạc mệnh Whitney Houston.
* Jason Việt Tiến hát "I Have Nothing" ở vòng loại "The X Factor"
Geri Halliwell nhận xét: "Cậu làm tốt hơn những gì tôi nghĩ khi thấy cậu xuất hiện. Đây là một ca khúc không dễ gì hát tốt được". Giám khảo Louis Walsh nhận định: "Có thể phần trình diễn của cậu không hoàn hảo nhưng thực sự sống động và thú vị. Đó là lý do tại sao tất cả khán giả ở đây cổ vũ cho cậu, còn tôi thì muốn nghe nữa".
Jason Việt Tiến, chàng trai người Việt gây sốt trong tập 2 vòng loại
Jason Việt Tiến, chàng trai người Việt gây sốt trong tập 2 vòng loại "The X Factor" phiên bản Anh mùa thứ chín.
Điểm đặc biệt trong tiết mục của Jason Việt Tiến là trước khi ra sân khấu, cậu tâm sự về tình cảm đặc biệt của mình dành cho nữ giám khảo xinh đẹp Tulisa Contostavlos. Jason bước ra sân khấu và đem theo một bông hồng dành tặng người phụ nữ trong mộng. Tuy nhiên, cậu phát âm nhầm tên của Tulisa thành "Tulisha" và các vị giám khảo phải chỉnh lại âm ngữ cho Jason.
Tulisa là người cổ vũ Jason nhiệt tình nhất. Cô còn trao một nụ hôn ngọt ngào khiến chàng trai người Việt ngất ngây. "Jason, tôi nghĩ chúng tôi đã tìm ra được một nhân tố mới. Tôi yêu bạn và phần trình diễn của bạn. Bạn muốn có tình yêu của tôi và bạn đã có được điều đó". Nhận được sự đồng ý của 4 giám khảo, Jason Việt Tiến thẳng tiến vào vòng trong.
Phần giao lưu đầy dễ thương và hài hước của Jason đã chinh phục hàng triệu khán giả theo dõi chương trình The X Factor. Sau đó, nhiều tờ báo danh tiếng của Anh như Mirror, Daily Mail... đều đưa tin về chàng du học sinh người Việt.
Jason nhận nụ hôn từ nữ giám khảo xinh đẹp Tulisa Contostavlos.
Jason nhận nụ hôn từ nữ giám khảo xinh đẹp Tulisa Contostavlos - người mà cậu yêu mến.
Jason Việt Tiến, 18 tuổi, mới sang Anh du học ngành Marketing, PR tại Đại học Birmingham City được hơn 2 năm. Trước đó, cậu là cựu học sinh trường THPT Trần Phú (TP HCM). Khi còn ở Việt Nam, Jason từng là tham dự cuộc thi Tiếng ca học đường 2009.
Cùng với The Voice hay Idol, The X Factor là một trong ba chương trình truyền hình tìm kiếm tài năng âm nhạc hút khách nhất trên thế giới hiện nay. Phiên bản của Anh đã đi tới mùa thứ chín, còn phiên bản Mỹ mùa thứ hai sẽ lên sóng tập đầu tiên vào ngày 12/9.
Nguyên Minh

Giáo viên tiếng Anh cần... phiên dịch

Trên thực tế, vấn đề khó cải thiện nhất của đề án Dạy học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân vẫn là đội ngũ giáo viên.

Nghe, nói tiếng Anh vẫn là những kỹ năng yếu nhất của cả giáo viên và học sinh - Ảnh: Đào Ngọc Thạch
Mới chuẩn ở... bằng cấp

Theo thống kê của Bộ GD-ĐT, đến hết tháng 6.2012, nếu áp theo khung tham chiếu châu Âu, toàn quốc chỉ có 1.062/11.784 giáo viên (GV) tiếng Anh tiểu học đạt trình độ B2, 2.785 GV đạt B1. Con số này quá ít ỏi so với tỷ lệ 60,17% GV tiếng Anh hiện nay có trình độ ĐH và sau ĐH trong nước.
Ông Nguyễn Ngọc Hùng, Trưởng bộ phận thường trực của đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 - Bộ GD-ĐT, nhận định khiếm khuyết của GV thể hiện trên tất cả các mặt nghe, nói, đọc và viết. Chính vì thế, các chương trình đào tạo và bồi dưỡng tiếng Anh của đề án phải tập trung phát triển cả 4 kỹ năng này cho GV. Tình trạng GV không đạt chuẩn xảy ra ở tất cả các địa bàn trong cả nước. “Hiện tượng GV giỏi chỉ tập trung ở một số trường chuyên hoặc trường chất lượng cao là có thật”, ông Hùng nói.
“Ngại” nói tiếng Anh với người nước ngoài
Cách đây hơn một năm, học sinh lớp 7 Trường THCS Đoàn Thị Điểm (Q.3, TP.HCM) phản ánh với Ban giám hiệu việc GV tiếng Anh của lớp phát âm sai, viết sai chính tả, sai ngữ pháp. Thậm chí, khi nói chuyện với người nước ngoài, GV này cũng không nghe được và học sinh phải dịch, chuyển ý cho câu chuyện của thầy cô mình.
Bà Lê Thúy Hòa, Hiệu trưởng Trường THPT Thái Bình - Q.Tân Bình, TP.HCM, cho biết: “Các GV thử việc tại trường đều tốt nghiệp sư phạm tiếng Anh, thậm chí có GV tốt nghiệp loại khá giỏi. Nhưng khi có khách nước ngoài, GV nào cũng ngại, không dám giao tiếp. Đến khi trường nhờ một cô giáo được đánh giá là giỏi nhất tiếp đoàn và làm phiên dịch thì cô này cũng rất khổ sở”.
Nhận định về chất lượng GV tiếng Anh hiện nay, nguyên Trưởng phòng GD Q.Tân Phú, TP.HCM, nhớ lại: “Mỗi năm, khi tuyển GV tiếng Anh, Phòng đều có phỏng vấn và thường xuyên tiếp nhận những ý kiến phản hồi của phụ huynh về chất lượng giảng dạy. Qua nhiều năm, cho thấy đa phần GV tiếng Anh mắc lỗi về phát âm”.
Chất lượng GV tiếng Anh ở Hà Nội cũng bộc lộ nhiều hạn chế ở kỹ năng nghe, nói và phát âm. Kết quả khảo sát của UBND TP.Hà Nội vào đầu năm nay cho thấy chỉ có khoảng 40% GV ngoại ngữ nghe và hiểu bài do chuyên gia giảng dạy, 30% hiểu được 50% bài giảng bằng tiếng nước ngoài, còn 30% gần như không hiểu, phải phiên dịch sang tiếng Việt.
Vừa thiếu vừa yếu


Những mục tiêu chính của đề án
Từ năm học 2010 - 2011, Bộ đã triển khai chương trình giáo dục ngoại ngữ 10 năm (học sinh bắt đầu học ngoại ngữ từ lớp 3 cho đến lớp 12). Mục tiêu cụ thể như sau:
Từ năm 2010 - 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới cho khoảng 20% lượng học sinh lớp 3, mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học 2015 - 2016 và 100% vào năm 2018 - 2019.
Triển khai chương trình đào tạo, tăng cường môn ngoại ngữ đối với giáo dục dạy nghề, TC, ĐH cho khoảng 10% học sinh, sinh viên vào năm học 2010 - 2011, 60% vào năm học 2015 - 2019.

T.Nguyễn (ghi)

Tỉnh Hà Nam, một trong những địa phương tham gia triển khai đề án ngay từ giai đoạn đầu cũng trong tình trạng GV vừa thiếu vừa yếu. Hiện toàn tỉnh có 655 GV tiếng Anh ở cả 3 cấp học. Nếu xét về bằng cấp, tất cả đều đạt chuẩn và trên chuẩn theo quy định. Tuy nhiên, trong đợt khảo sát năng lực GV tiếng Anh do Bộ GD-ĐT tiến hành, toàn tỉnh chỉ có 12/648 GV tham gia khảo sát đạt yêu cầu. Đáng quan tâm hơn, ở bậc THPT có 100% GV đều được đào tạo trình độ ĐH chính quy lại không hề có người nào đạt chuẩn. Tỷ lệ GV dưới chuẩn hai bậc trở xuống ở THCS xấp xỉ 40%, tiểu học và THPT trên 55%. Trong đó, nghe là kỹ năng yếu nhất, đọc cũng chỉ đạt mức trung bình.
Để đánh giá được trình độ của GV, Sở GD-ĐT TP.HCM đã tổ chức khảo sát bài thi gồm kỹ năng nghe, đọc, viết và các kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm theo chuẩn của Nhà xuất bản Oxford. Thi vấn đáp trực tiếp với GV bản ngữ về kỹ năng nói. Có khoảng 1.756 GV tiếng Anh các cấp tham gia khảo sát. Ông Văn Công Sang, Trưởng phòng Tổ chức cán bộ của Sở, cho biết: “Kết quả cụ thể chúng tôi không thể công bố vì ảnh hưởng đến uy tín của GV, nhưng có thể nói rằng khoảng 700 GV tiểu học (trong 756 GV tham gia - PV) phải đào tạo lại”. Theo thông tin tìm hiểu của chúng tôi, chỉ có 5% GV của 2 bậc học còn lại đạt chuẩn. Chẳng hạn H.Nhà Bè chỉ có 1/20 GV khảo sát đạt chuẩn. Gần 100 GV tiểu học và THCS của Q.5 tham gia khảo sát không đạt chuẩn. Toàn Q.4 chỉ có 3 GV đạt chuẩn, Q.10 có 10 người…
Ông Nguyễn Ngọc Hùng cho rằng có nhiều lý do khiến GV không đạt chuẩn trong các cuộc rà soát trình độ vừa qua, trong đó có các lý do chính: Môn tiếng Anh tiểu học trước đây là tự chọn, nơi nào có điều kiện thì tổ chức nên việc tuyển chọn GV chưa được bài bản. Đại đa số GV này học các hệ không chính quy tại các cơ sở tiếng Anh chất lượng chưa bảo đảm. Trước đây, GV dạy tiếng Anh chỉ chú trọng chuẩn bị cho học sinh thi ngữ pháp, từ vựng và dịch nên lâu dần kỹ năng giao tiếp của thầy cô cũng bị mai một. Một số trường sư phạm chưa bảo đảm chất lượng đầu ra cho sinh viên tốt nghiệp ngành tiếng Anh.

Khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ chung châu Âu
A0 - A1: Có thể hiểu được những chỉ dẫn đơn giản hoặc tham gia vào những trao đổi ngắn về các chủ đề có thể đoán được.
A2: Có thể diễn đạt đơn giản các quan điểm hoặc những yêu cầu trong tình huống quen thuộc; Hiểu được những thông tin đơn giản trên sản phẩm, biển báo, sách giáo khoa hoặc những loại báo cáo về các chủ đề quen thuộc; Điền các mẫu đơn và viết các bức thư ngắn hoặc bưu thiếp liên quan đến thông tin cá nhân.
B1: Có thể diễn đạt hạn chế quan điểm trong những vấn đề văn hóa, trừu tượng hoặc đưa ra lời khuyên trong những vấn đề quen thuộc, hiểu được những thông báo, chỉ dẫn cộng đồng; Đọc hiểu các bài báo, thông tin hằng ngày, hiểu được ý chính của các văn bản trong lĩnh vực quen thuộc; Viết thư hoặc ghi chú ý chính những vấn đề quen thuộc hoặc những chủ đề có thể đoán trước.
B2: Có thể hiểu, trình bày về một chủ đề quen thuộc hoặc giao tiếp ở khá nhiều lĩnh vực khác nhau; Tìm kiếm những thông tin trong văn bản, hiểu được những chỉ dẫn và các lời khuyên chi tiết; Ghi chú những ý chính khi người khác đang phát biểu hoặc viết thư yêu cầu về những chủ đề thông thường.
C1: Có thể đóng góp hiệu quả vào các cuộc họp hoặc hội thảo hoặc thực hiện những cuộc hội thoại trong giao tiếp hằng ngày tương đối lưu loát, hiểu được những thành ngữ trừu tượng; Đọc nhanh để theo học các khóa học thuật, đọc và hiểu được các bài báo, thư từ thông thường; Soạn thảo thư từ chuyên nghiệp, ghi chép khá chính xác trong các cuộc họp hoặc viết bài luận văn...

B.Thanh (ghi)

Đằng sau vụ Phó chủ tịch Ngân hàng Á Châu ACB (Bầu Kiên) bị bắt và bài học "nhìn thấy cơ hội trong nguy cơ".

https://dl.dropbox.com/u/3230036/Tai-lieu-CFOViet.com-BauKien.pdf
http://www.cfoviet.com/p/bau-kien.html?utm_source=CFOViet&utm_campaign=4d2ddfc289-G_i_t_i_li_u_CFOViet_Kinh_t_Vi_t_Nam_9_8_2012&utm_medium=email

Banks receive credit report cards

HA NOI (VNS)— Thirty-two domestic commercial banks have been rated at four competitiveness levels, A, B, C, and D, according to the Viet Nam Credit Rating Annual Report 2012 released on Saturday.
Level A banks have a high competitiveness, strong market power, stable financial resources, effective performance, and long-term development potential.
Level B consists of banks with fairly high competitiveness, good market power, reasonable financial resources, stable performance and good development potential.
Banks with average competitiveness, limited market power, acceptable financial strength, and less stable business performance belong to level C.
Level D refers to banks with limited competitiveness. These banks suffer from deficiencies like a weak business network and market power, acceptable financial strength, and less stable business performance.
According to the report, the nine banks to receive A ratings were Techcombank, ACB, Sacombank, Eximbank, DongA Bank, MB, Vietcombank, Vietinbank, and BIDV.
The Level B banks were BacA Bank, HDBank, MaritimeBank, Orient Commercial Joint Stock Bank, Sai Gon Bank for Industry and Trade, Southern Bank, VIB, PG Bank, and Viet A Bank.
VPBank, ABBank, DaiA Bank, Kien Long Bank, MHB, Nam A Bank, Oceanbank, Habubank, Navibank, and SHB were placed in level C.
Level D is comprised of Vietbank, Western Bank, and MDB.
Agribank was not rated in this year's report.
The launch of Viet Nam Credit Rating Annual Report 2012 was announced by the President's Office and the Viet Nam Chamber of Commerce and Industry (VCCI).
This is the 3rd consecutive year this kind of report was conducted. This year's report provides an overall evaluation of Viet Nam's banking system together with competitiveness ratings of the banks. — VNS